Tạp Chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn – Số 17

nongnghiep

 1. Tiêu đề: RỦI TO TRONG CHĂN NUÔI GIA CẦM TẠI VIỆT NAM.

 Tóm tắt: Những năm qua, chăn nuôi gia cầm Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nhưng cũng đang đương đầu với nhiều thách thức nhất, trong đó, rủi ro là một trong những vấn đề lớn. Nghiên cứu này cung cấp một phân tích toàn diện về thực trạng rủi ro trong chăn nuôi, nhận dạng các loại rủi ro chủ yếu trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi gia cầm. Theo đó, trong lĩnh vực sản xuất, chăn nuôi gia cầm đã và đang đối mặt với nguy cơ dịch bệnh thường xuyên xảy ra, giống gia cầm không đảm bảo chất lượng và sự phụ thuộc vào nguồn thức ăn nhập khẩu. Về các yếu tố thị trường, rủi ro xuất phát từ giá cả thức ăn chăn nuôi luôn duy trì ở mức cao, trong khi giá sản phẩm thì biến động thất thường và có xu hướng giảm trong thời gian gần đây. Để giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi gia cầm, các biện pháp như bảo hiểm nông nghiệp, sản xuất theo hợp đồng, lien kết để chia sẻ rủi ro đã được thí điểm, thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp quản lý rủi ro còn khá hạn chế. Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, đã đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro như tái cơ cấu, quy hoạch lại chăn nuôi gia cầm, gắn sản xuất với thị trường, ứng dụng công nghệ sạch và an toàn, hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác, lien kết trong chăn nuôi và kiểm soát thong tin, truyền thông về rủi ro trong chăn nuôi gia cầm.

 Từ khoá: Rủi ro, quản lý rủi ro, phát triển, chăn nuôi gia cầm.

 2. Tiêu đề: GIẢI PHÁP  CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA.

 Tóm tắt: Chăn nuôi bò thịt đóng vai trò quan trọng trong kinh tế – xã hội của huyện Yên Định, tuy nhiên phát triển chăn nuôi bò thịt chưa tương xứng với tiềm năng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Yên Định trong thời gian tới. Số liệu sơ cấp được thu thập thong qua điều tra 80 cơ sở chăn nuôi theo các quy mô khác nhau, cán bộ phòng nông nghiệp, thương lái và lò mổ bò trong huyện . Phương pháp phân tích sô liệu được dùng để thống kê mô tả, so sánh và hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh trong nông hộ. Kết quả cho thấy sản lượng thịt bò sản xuất tăng qua các năm, hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ với quy mô khoản 4 con/hộ. Phương thức chăn nuôi chủ yếu là nuôi nhốt với giống bò chủ yếu là lai Zebu. Liên kết trong ngành hang thịt bò còn hạn chế, mới chỉ thành lập một nhóm nông dân và có lien kết với thương lái/người giết mổ. Trung bình mỗi hộ thu được hơn 23 triệu đồng mỗi năm và khoảng 13 triệu đồng/100 kg thịt tăng them. Phân tích cũng cho thấy chăn nuôi bò thịt bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như vốn, đồng cỏ chăn nuôi, dịch vụ thú y, hạn chế kĩ thuật, tiêu thụ sản phẩm và thị trường. Trên cơ sở đó, các giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Yên Định được đề xuất.

 Từ khoá:Giải pháp, bò thịt, Yên Định

 3. Tiêu đề: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÔM – RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU.

 Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng phát triển tôm rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau và đề xuất giải pháp phát triển tôm rừng trong thời gian tới. Nhóm nghiên cứu đã thảo luận nhóm với cán bộ quản lí của Sở Nông Nghiệp và PTNT Cà Mau, Chi cục Kiểm Lâm và 05 huyện ven biển, 09 ban quản lí rừng ngập mặn và phỏng vấn trực tiếp 230 hộ nuôi tôm rừng ở các ban quản lí rung phòng hộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Kết quả cho thấy tổng diện tích nuôi tôm rừng toàn tỉnh Cà Mau năm 2015 đạt 29.636 ha với sản lượng đạt 9.605 tấn. Trong đó, tổng diện tích của 1 hộ 5,15±0,199 ha/hộ (diện tích mặt nước 2,12±0,083 ha/hộ), tỷ lệ rừng đạt 59% tổng diện tích hộ nuôi, năng suất nuôi trung bình 323,3±4,4 kg/ha (năng suất tôm sú 222,9±2,8 kg/ha, năng suất cua 100,2±2,6 kg/ha), tổng chi phí sản xuất 42,9±1,3 triệu đồng/hộ, tổng doanh thu (chỉ tính cho phần diện tích NTTS) 56,1±0,8 triệu đồng/ha, lợi nhuận 32,8±0,8 triệu đồng/ha (dao động -9,3 – 80 triệu đồng/ha). Nghiên cứu đã đề xuất định hướng đến năm 2020 tổng diện tích nuôi tôm kết hợp với bảo vệ rừng khoảng 80.000 ha (diện tích mặt nước 30.000 ha) với sản lượng đạt 14.300 tấn (tôm 10.700 tấn, cua 3.600 tấn). Diện tích nuôi tôm rừng có chứng nhận quốc tế đạt 40.000 ha (bao gồm cả diện tích rừng và diện tích mặt nước) với sản lượng tôm được cấp chứng nhận quốc tế 5.600 tấn, năng suất bình quân nuôi tôm rừng đạt 470 kg/ha và đề xuất giải pháp phát triển như: Đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ; tăng cường công tác hỗ trợ cộng đồng, nâng cao năng lực và phát triển chương trình chứng nhận cho tôm rừng, nghiên cứu xây dựng và chuyển giao quy trình nuôi nâng cao năng suất tôm rừng; xây dựng thương hiệu tôm sinh thái Cà Mau.

 Từ khóa: Nuôi tôm rừng, tôm được chứng nhận, rừng ngập mặn.

 4. Tiêu đề : CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU VÀ CÁC TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁ TRA XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM.
Tóm tắt : Sự gia tăng của tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm từ các nước phát triển đã ảnh hưởng đến cấu trúc và tổ chức hoạt động chuỗi giá trị cá tra Việt Nam. Tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu, tác giả tiến hành khảo sát 41 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra, 91 hộ nuôi và nhận thấy: (1) chuỗi giá trị cá tra xuất khẩu của Việt Nam là chuỗi dẫn đạo bởi người mua; (2) hầu hết các doanh nghiệp chế biến đã nâng cấp quá trình hoạt động thông qua việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và an toàn thực phẩm trong suốt quá trình; (3) quản trị chuỗi dịch chuyển từ dạng thị trường sang dạng quan hệ hoặc phụ thuộc và tập trung. Trên cơ sở đó, nghiên cứu rút ra 2 hàm ý cho nhà làm chính sách: (1) hoàn thiện mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và các hộ nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro cho hộ nuôi; (2) cấu trúc lại các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra dựa trên năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn nhằm xây dựng hình ảnh cá tra trên thị trường quốc tế.

 Từ khóa: Chuỗi giá trị toàn cầu, quản trị chuỗi, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm.

 5. Tiêu đề : ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN TAM NÔNG,TỈNH PHÚ THỌ.

 Tóm tắt : Bài viết phân tích thực trạng nông thôn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới (NTM). Số liệu được thu thập từ 100 hộ gia đình tại xã Thọ Văn, Dậu Dương và các xã khác trong huyện. Kết quả nghiên cứu cho thấy năm 2011 bình quân mỗi xã trong huyện chỉ đạt 4,37 tiêu chí NTM. Đến năm 2015 mỗi xã đã đạt bình quân 11,21 tiêu chí. Tại xã Dậu Dương thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng kỹ thuật được đánh giá ở mức tốt, quy hoạch phát triển sản xuất được đánh giá ở mức trung bình. Tại xã Thọ Văn, thực hiện quy hoạch sử dụng đất được đánh giá ở mức tốt; quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và quy hoạch phát triển sản xuất được đánh giá ở mức thấp. Sự tham gia của người dân vào xây dựng NTM được đánh giá ở mức cao. Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện quy hoạch xây dựng NTM cần thực hiện các giải pháp sau: xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo từng giai đoạn cụ thể; đề xuất các quy định chi tiết về quản lý và giám sát việc thực hiện quy hoạch; tăng cường công tác tuyên truyền; đa dạng các hình thức thu hút vốn đầu tư; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch xây dựng NTM.

 Từ khóa: Nông thôn, sự tham gia của người dân, xây dựng nông thôn mới, huyện Tam Nông.

 6.Tiêu đề : SỰ THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HUYỆN LƯƠNG SƠN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI.
Tóm tắt : Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm và toàn diện nhất về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ trước tới nay. Sau 6 năm thực hiện, diện mạo nhiều vùng nông thôn cả nước nói chung và của huyện Lương Sơn nói riêng đã đổi thay, hạ tầng kinh tế – xã hội thiết yếu được nâng cấp, đời sống đa số nông dân được cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều nét đẹp văn hóa được phát huy, đội ngũ cán bộ trưởng thành một bước. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục như: Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất trên diện rộng ở một số lĩnh vực còn nhiều bất cập do các điều kiện về vật chất, cơ sở hạ tầng, kiến thức và kỹ năng người sản xuất chưa đồng bộ. Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội tại một số xã còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn… Vì vậy, cần có những giải pháp thiết thực để đẩy nhanh tốc độ chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới.

 Từ khóa: Kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới, Lương Sơn.

 7. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TẠO QUỸ ĐẤT PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH.

 Tóm tắt :Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo quỹ đất phát triển cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị địa bàn thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Trong giai đoạn 2010 – 2016, thành phố Nam Định đã tạo quỹ đất cho 53 dự án để phát triển cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị với tổng diện tích 90,37 ha, trung bình thực hiện 7,5 dự án với diện tích 12,91 ha /1 năm. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo quỹ đất tại thành phố Nam Định, trong đó nhóm yếu tố tài chính có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến công tác tạo quỹ đất với trọng số là 0,266; tiếp đến là nhóm yếu tố chính sách, pháp luật đất đai, nhóm yếu tố tổ chức thực hiện và nhóm yếu tố liên quan đến thửa đất, chiếm trọng số lần lượt là 0,237, 0,217 và 0,141; cuối cùng là nhóm yếu tố liên quan đến người sử dụng đất với trọng số 0,139.

 Từ khóa: Tạo quỹ đất, cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, thành phố Nam Định.

 8. Tiêu đề : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Tóm tắt : Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Sơn được tiến hành dựa trên phương pháp của FAO nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó tạo cơ sở cho việc định hướng sử dụng đất cũng như góp phần điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020. Trên cơ sở thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp, kết hợp với phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn hộ điều tra, kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Tân Sơn cho thấy: ở tiểu vùng 1 các LUT cây công nghiệp (cây chè) và 2 lúa – màu với các kiểu sử dụng đất: lúa xuân – lúa mùa – ngô đông; lúa xuân – lúa mùa – khoai lang đã cho hiệu quả cao hơn LUT 1 lúa – màu, chuyên lúa, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày (cây sắn). Ở tiểu vùng 2 các LUT chuyên rau cải, 2 lúa – màu, chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày (với các kiểu sử dụng đất ngô xuân – đậu tương hè – ngô đông; lạc xuân – đậu tương hè – ngô đông) có hiệu quả cao hơn LUT chuyên lúa, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày (cây sắn). Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đề xuất tăng diện tích sử dụng của các LUT 2 lúa-màu và cây công nghiệp dài ngày (tiểu vùng 1) và LUT 2 lúa-màu, chuyên rau (tiểu vùng 2) do có hiệu quả trên 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cao. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù nên LUT chuyên lúa cũng được đề nghị tăng diện tích ở những khu vực ven suối, sông -thuận tiện cho tưới nước – nhằm đảm bảo nhu cầu tự túc lương thực cho người dân. Đối với các kiểu sử dụng đất như: trồng sắn, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày cần giảm diện tích do hiệu quả môi trường không cao, hiệu quả kinh tế thấp.

Từ khoá: Hiệu quả, kinh tế, xã hội, môi trường, loại sử dụng đất.

 9. Tiêu đề : ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG MgSO4 ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG CHÈ TRUNG DU BÚP TÍM THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN.

 Tóm tắt :Giống chè Trung Du búp tím là giống thuộc loại hình thân gỗ, chất lượng búp khá và khả năng chống chịu tốt. Bón bổ sung MgSO4 làm thay đổi diệp lục tố, làm tăng phẩm chất chè nguyên liệu góp phần nâng cao chất lượng chè thành phẩm, từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè hiện nay. Thí nghiệm với 3 công thức: không bón MgSO4, bón 60 kg MgSO4 /ha, bón 80 kg MgSO4 /ha. Công thức bổ sung 80 kg MgSO4 /ha đạt các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất cao nhất: mật độ búp 77,78 búp/cây, chiều dài búp 1 tôm 3 lá 7,2 cm, khối lượng búp 1 tôm 3 lá là 0,91 g/búp, năng suất đạt 22,01 tạ/ha. Chất lượng nguyên liệu: cho tỷ lệ búp mù xòe thấp nhất (12,48%), hàm lượng tanin thấp nhất (30,23 %).

 Từ khóa: Giống, bổ sung, chất lượng, chỉ tiêu, nguyên liệu.

 10. Tiêu đề : KẾT QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH.

 Tóm tắt : Nghiên cứu này được tiến hành tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình với mục tiêu chính là làm rõ thực trạng việc thực hiện các quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại huyện Quảng Ninh từ sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực. Kết quả điều tra cho thấy, quyền thế chấp được thực hiện khá tốt với 96,1% trường hợp hoàn tất các thủ tục khi thế chấp, tiếp đến là quyền chuyển nhượng với 75,2% trường hợp chuyển nhượng hoàn tất các thủ tục, tiếp đến là các quyền thừa kế (có 59,3% trường hợp đã hoàn tất các thủ tục thực hiện quyền thừa kế), quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp (có 54,7% trường hợp làm đầy đủ thủ tục khai báo và chuyển quyền), quyền tặng cho (có 51,5% trường hợp đã hoàn tất các thủ tục tặng cho). Có sự khác nhau về việc thực hiện các quyền sử dụng đất giữa các địa bàn nghiên cứu. Nhìn chung đối với thị trấn Quán Hàu và các xã đồng bằng (Võ Ninh, Vạn Ninh và Lương Ninh), việc thực hiện quyền thừa kế, tặng cho, thế chấp và chuyển nhượng cao hơn so với các xã khác. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến các quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn nghiên cứu, đó là một số hộ dân chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục hành chính về đất đai còn nhiều bất cập như hồ sơ phức tạp, thời gian giải quyết kéo dài, văn bản hướng dẫn còn khó hiểu đối với người dân.

 Từ khóa: Quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng, quyền tặng cho, quyền thế chấp, quyền thừa kế.

 11. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC CHO KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.

 Tóm tắt : An Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, đến năm 2017 tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh (HVS) hơn 96%, trong đó nước đạt QCVN 02 gần 77%. Nguồn nước cấp sinh hoạt chủ yếu từ các công trình cấp nước tập trung nông thôn (hơn 80%). Tổng số công trình cấp nước tập trung nông thôn 195 công trình, tăng 123 công trình so với năm 2005. Tuy nhiên, nhiều công trình cấp nước có công suất nhỏ, cấp nước cho một ấp, công nghệ xử lý nước tại một số công trình không còn đáp ứng với sự thay đổi chất lượng nguồn nước hiện tại do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH). Để khắc phục những vấn đề tồn tại đó cần nghiên cứu đề xuất giải pháp cấp nước nông thôn trong điều kiện BĐKH của tỉnh An Giang.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, hiện trạng cấp nước, cấp nước nông thôn.

 12. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THỦY LỰC KHI XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH KÈ VÀ ĐƯỜNG, CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ DỌC BỜ SÔNG CÁI – THÀNH PHỐ NHA TRANG TRÊN MÔ HÌNH VẬT LÝ.

 Tóm tắt : Nội dung bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu chế độ thủy lực dòng lũ hiện trạng và khi có công trình kè, đường dọc bờ sông Cái Nha Trang trên mô hình vật lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi xây dựng công trình kè, đường dọc bờ sông, bao quanh các cồn Ngọc Thảo, Nhất Trí, cầu Ngọc Thảo, dòng chảy lũ 3% sẽ làm dâng cao mực nước 20÷28 cm ở đoạn từ đầu cồn Ngọc Thảo đến cầu Đường Sắt; 18 cm ở thượng lưu cầu Đường Sắt, còn từ cầu Xóm Bóng ra biển, mực nước có hạ thấp khoảng 2÷5 cm. Trường lưu tốc tăng mạnh ở lạch phải làm cho tỷ lệ lưu lượng chia cho lạch phải tăng lên 8÷12%, nhưng lạch trái vẫn là lạch thoát lũ chính. Các công trình do dự án “Chỉnh trang đô thị, xây dựng kè và đường dọc bờ sông Cái – thành phố Nha Trang” đề xuất về cơ bản là hợp lý, các ảnh hưởng gây ra là cục bộ và không lớn. Để giảm thiểu hậu quả bất lợi do công trình trong dự án gây ra có thể tiến hành thanh thải các cồn T0, T1, T2 nhằm giảm mực nước dâng do công trình tạo ra và điều chỉnh lại tỷ lệ phân lưu để lạch trái thoát lũ tốt hơn so với hiện trạng, cải tạo cảnh quan và giá trị khai thác cho đoạn sông.

 Từ khóa: Sông Cái Nha Trang, cầu Đường Sắt, cầu Trần Phú, cồn Nhất Trí, cửa Hà Ra.

 13. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU BỆNH DO GIUN ĐŨA Ascaridia galli Ở GÀ GÂY NHIỄM THỰC NGHIỆM TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN.

Tóm tắt : Nuôi cấy trứng giun đũa Ascaridia galli thành trứng chứa ấu trùng có khả năng gây bệnh để gây nhiễm cho gà thí nghiệm. Theo dõi thấy gà bắt đầu thải trứng giun A. galli qua phân sau gây nhiễm 39 – 43 ngày (ở gà 1,5 tháng tuổi) và 50 – 54 ngày (ở gà trên 6 tháng tuổi). Gà bị bệnh giun đũa do gây nhiễm có các biểu hiện lâm sàng chủ yếu như: gầy, lông xơ xác, chân và da khô; mào, tích nhợt nhạt; gà bỏ ăn, ủ rũ, chậm tăng trọng; phân sống và loãng. Mổ khám gà thí nghiệm thấy niêm mạc ruột non bị viêm xuất huyết, tụ huyết; trong ruột non có nhiều giun đũa ký sinh (39 – 102 giun đũa/gà). Bệnh tích vi thể do giun đũa gây ra tập trung ở ruột non: lớp niêm mạc ruột quá sản mạnh (dày lên – Hypertrophia); biểu mô phủ thoái hóa long trợt; mô đệm vùng niêm mạc xuất huyết; có hiện tượng tế bào viêm xâm nhập vào lớp sâu niêm mạc ruột.

 Từ khóa: Ascaridia galli, gà, gây nhiễm, biểu hiện lâm sàng, bệnh tích.

 14. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TẠO ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN Photobacterium damsalae ĐỘT BIẾN GIẢM ĐỘC LỰC.

 Tóm tắt : Dòng vi khuẩn P. damselae nhược độc T4.3U6 được tạo ra bằng cách gây đột biến bởi tia UV được sử dụng để đánh giá mức độ tạo đáp ứng miễn dịch nhằm mục đích chế tạo vắc-xin phòng bệnh tụ huyết trùng cho cá biển. Các liều tiêm vi khuẩn nhược độc là 108 -105 CFU/ml cho mức độ hình thành kháng thể đặc hiệu là tương tự nhau, đáp ứng miễn dịch ở cá được duy trì tương đương nhau trong suốt 120 ngày theo dõi thí nghiệm. Ở các lô cá được tiêm vi khuẩn vô hoạt, hiệu giá kháng thể của cá đạt cao nhất ở ngày thứ 30 sau khi tiêm và giảm nhanh chóng trong quá trình theo dõi thí nghiệm và đạt mức tối thiểu ở ngày thứ 90 tương đương với hiệu giá kháng thể ở lô cá đối chứng. Liều vi khuẩn vô hoạt có ảnh hưởng khác nhau đến mức độ hình thành kháng thể đặc hiệu, trong đó liều 108 CFU/ml gây đáp ứng miễn dịch tạo kháng thể đặc hiệu mạnh nhất. Theo dõi mức độ bảo vệ cá của dòng vi khuẩn T4.3U6, sau khi gây miễn dịch 60 ngày chỉ còn 10 – 20% cá sống sót ở các lô được gây miễn dịch bằng vi khuẩn vô hoạt sau khi công cường độc; trong khi đó tỷ lệ sống sót sau khi công cường độc đạt 70 – 90% ở các lô cá được gây miễn dịch bằng vi khuẩn nhược độc. Mật độ vi khuẩn nhược độc thích hợp để bảo vệ cá với vi khuẩn P. damselae có độc lực cao là 107 CFU/ml. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả vượt trội của việc sử dụng vi khuẩn nhược độc trong sản xuất vắc-xin phòng bệnh cho cá.

 Từ khoá: P. damsalae, đột biến, giảm độc lực, đáp ứng miễn dịch, miễn dịch bảo hộ, cá biển

 15.Tiêu đề : ẢNH HƯỞNG CỦA PROTEIN VÀ LIPIT TRONG THỨC ĂN TỚI TĂNG TRƯỞNG, HỆ SỐ CHUYỂN ĐỔI THỨC ĂN VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LĂNG CHẤM Hemibagrus guttatus (Lacépède 1803)

 Tóm tắt : Tám loại thức ăn viên có có năng lượng tương tự nhau (15,16-16,48 MJ/kg) được thiết lập từ sự kết hợp bốn mức protein (40%, 45%, 50% và 55%) và hai mức lipit (5% và 10%) để thử nghiệm nuôi thương phẩm cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus). Ba thí nghiệm với 3 cỡ cá khác nhau (5 g, 50 g và 150 g/con) được bố trí ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức thức ăn được lặp lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Lăng chấm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khi sử dụng thức ăn với thành phần protein là 45% và lipit là 10%. Tỷ lệ sống của cá Lăng chấm trong thí nghiệm này là trên 90% ở cá cỡ 5 g và 50 g, đối với cỡ cá 150 gam là 69,70 – 74,24%. Hệ số thức ăn (FCR) của cá Lăng chấm ở cả 3 cỡ trong thí nghiệm này là sai khác có ý nghĩa (P < 0,05), tốt nhất ở loại thức ăn 45% protein và 10% lipit với FCR ở 3 cỡ cá 5 g, 50 g và 150 g lần lượt là 2,55, 3,53 và 4,31. Hiệu quả sử dụng protein PER ở cả 3 cỡ cá là sai khác có ý nghĩa (P < 0,05) với PER ở cỡ cá 5 g và 50 g có giá trị cao nhất lần lượt là 0,93 và 0,65 đều ở công thức thức ăn 45/10. Riêng đối với cỡ cá 150 g, PER có giá trị cao nhất là 0,59 và ở công thức thức ăn có protein là 40 và lipit là 10%.

 Từ khóa: Cá Lăng chấm, thức ăn, protein, lipit, tăng trưởng, hệ số thức ăn, tỷ lệ sống.

 16. Tiêu đề : ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ PHỐI HỢP CÁM GẠO VÀ RỈ MẬT ĐƯỜNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH BIOFLOC, SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Litopenaeus vannamei (BOONE, 1931).

 Tóm tắt :Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của sự phối hợp các nguồn hydratcacbon bổ sung vào bể nuôi lên thể tích biofloc, sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng Litopenaues vannamei (Boone, 1931) nuôi trong bể compozit. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Các nghiệm thức tương ứng với tỷ lệ giữa cám gạo (C) và rỉ mật đường (R) tính theo khối lượng, kí hiệu lần lượt là 30C70R, 50C50R và 70C30R. Mỗi bể compozit có thể tích nước 1 m3 với độ mặn 20‰ được thả 150 con tôm có khối lượng ban đầu 0,06 (± 0,01) g. Kết quả cho thấy, ở nghiệm thức 70C30R thể tích biofloc cao hơn ở hai nghiệm thức còn lại, tương tự, khối lượng và chiều dài của tôm cũng lớn nhất ở nghiệm thức 70C30R, trong khi tỷ lệ sống của tôm ở nghiệm thức 50C50R cao hơn ở nghiệm thức 30C70R và 70C30R và năng suất tôm cao nhất ở nghiệm thức 50C50R. Trong thực tế, có thể áp dụng hỗn hợp 50% cám gạo và 50% rỉ mật đường trong nuôi tôm thẻ chân trắng trong hệ thống biofloc.

 Từ khoá: Cám gạo, rỉ mật đường, biofloc, tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931).

 17. Tiêu đề : ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei, Boone 1931) GIAI ĐOẠN ZOEA.

 Tóm tắt : Thí nghiệm nhằm xác định được mật độ ương và công thức thức ăn để ương ấu trùng Zoea tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei, Boone 1931). Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, chi nhánh Bình Định với 2 thí nghiệm nhắc lại 2 lần, mỗi lần nhắc lại được bố trí 3 nghiệm thức lặp lại 3 lần theo phương pháp bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn. Kết quả cho thấy ấu trùng ương ở mật độ 150 con/L và cho ăn thức ăn tảo (tươi và khô) phối hợp với Artemia Nauplius đạt kết quả tốt nhất về thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng.

 Từ khoá: Ấu trùng Zoea, mật độ, thời gian biến thái, tỷ lệ sống, Litopenaeus vannamei.

 18. Tiêu đề : THÀNH PHẦN LOÀI CỦA LỚP GIÁP XÁC LỚN (CRUSTACEA) Ở SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM.

 Tóm tắt : Quá trình nghiên cứu về thành phần loài giáp xác cỡ lớn được thực hiện từ tháng 1/2016 đến tháng 10/2016 ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, đã ghi nhận 21 loài thuộc 7 giống và 4 họ Giáp xác lớn, trong đó, họ Palaemonidae đa dạng nhất với 12 loài (chiếm 57,14% tổng số loài ghi nhận), tiếp theo là họ Atyidae ghi nhận 5 loài (chiếm 23,81%), họ Parathelphusidae ghi nhận 3 loài (chiếm 14,29%), họ Potamidae chỉ ghi nhận 1 loài (chiếm 4,76%). Trong họ Tôm gai, giống Macrobrachium có số lượng loài cao nhất với 11 loài (chiếm 52,38%), tiếp theo là giống Palaemon có 1 loài (chiếm 4,76%). Họ Tôm (Atyidae) ghi nhận 3 loài, trong đó phân bố rộng nhất là loài C. subnilotica có mặt ở 8/10 điểm thu mẫu. Họ Cua đồng (Parathelphusidae) có giống Somanniathelphusa với 2 loài và giống Esanthelphusa với 1 loài. Họ Cua núi (Potamidae) có 1 loài Potamon potamios phân bố tại 5 điểm thu mẫu vào cả hai mùa.

 Từ khóa: Huyện Bắc Trà My, giáp xác lớn, sông Tranh, thành phần loài, tỉnh Quảng Nam.

 19. Tiêu đề : TẠO CÂY BẠCH ĐÀN URÔ CHUYỂN GIEN GS1 MÃ HÓA GLUTAMIN SYNTHETAZA TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NITƠ

  Tóm tắt : Glutamin synthetaza (GS, EC 6.3.1.2) được mã hóa bởi gien GS1 là enzym đồng hóa nitơ, xúc tác cho phản ứng chuyển hóa glutamic axít thành glutamin phụ thuộc vào ATP, dùng amoniac như một cơ chất. Trên cơ sở quy trình kỹ thuật chuyển gien vào Bạch đàn urô thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens đã được xây dựng và tối ưu hóa, gien GS1 đã chuyển thành công vào cây Bạch đàn urô. Tổng số 10.267 thể nhận gien là các đoạn thân và mảnh lá mầm cây in vitro, đã tạo được 48 chồi tái sinh sống sót sau 3 lần sàng lọc trên môi trường nuôi cấy chọn lọc có chứa 150 – 200 mg/l kanamyxin, trong đó có 41 chồi ra rễ trên môi trường chọn lọc 75 mg/l kanamyxin. Kết quả kiểm tra các dòng Bạch đàn urô giả định chuyển gien bằng kỹ thuật PCR, RT-PCR và lai Southern blot đã thu được 5 dòng chuyển gien (E-X7, E-X16, E-X17, E-X20 và E-X29). Cả 5 dòng chuyển gien đều phát triển thành cây hoàn chỉnh và được chuyển ra trồng trong nhà lưới để tiến tới đánh giá đặc điểm nông học và sinh trưởng. Kết quả thu được là cơ sở cho việc chọn tạo giống Bạch bàn urô chuyển gien sinh trưởng nhanh.

 Từ khóa: Agrobacterium tumefaciens, Bạch đàn urô, chuyển gien, gien GS1, glutamin synthetaza.

 20. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NÂNG CAO ĐỘ BỀN GỖ GÁO TRẮNG BỞI mDMDHEU LÀM ĐỒ GỖ NGOẠI THẤT.

 Tóm tắt : Đề xuất thông số công nghệ xử lý nâng cao độ bền gỗ Gáo trắng làm đồ gỗ ngoại thất trong điều kiện không tiếp xúc đất, một trong những định hướng sử dụng gỗ biến tính làm cửa sổ với chiều dày thanh gỗ 45-50 mm, khảo nghiệm các thông số công nghệ xử lý gỗ Gáo trắng bởi mDMDHEU nồng độ 20% với 3% tỷ lệ chất xúc tác clorua magie so với khối lượng mDMDHEU, xử lý nhiệt ở 2 chế độ khác nhau: 80oC trong 24 giờ và 100oC trong 12 giờ có chênh lệch nhưng không nhiều, trong đó gỗ xử lý nhiệt ở 100oC trong 12 giờ có mức độ cải thiện tính chất cao hơn gỗ xử lý nhiệt ở 80oC trong 24 giờ. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của tác giả, kết hợp với việc đề xuất, khảo nghiệm các thông số công nghệ, đã xây dựng quy trình công nghệ xử lý nâng cao độ bền gỗ Gáo làm đồ gỗ ngoại thất. Gỗ Gáo trắng biến tính đã có tính ổn định kích thước, một số tính chất cơ học, khả năng chống chịu sinh vật và môi trường cao hơn gỗ không xử lý.

 Từ khóa: Đồ gỗ ngoại thất, gỗ biến tính, gỗ Gáo trắng, mDMDHEU, nâng cao độ bền gỗ.

 21. Tiêu đề : NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG LOÀI VƯỢN MÁ VÀNG PHÍA BẮC (Nomascus annamensis) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NGỌC LINH, TỈNH QUẢNG NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP ÂM SINH HỌC VÀ CÁC THIẾT BỊ GHI ÂM TỰ ĐỘNG.

 Tóm tắt : Vượn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) là loài Vượn mới được mô tả vào năm 2010, chúng có vùng phân bố ở cả Việt Nam, Lào và Campuchia. Nghiên cứu điều tra hiện trạng loài Vượn má vàng phía Bắc tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Ngọc Linh, tỉnh Quang Nam được thực hiện vào tháng 6 và tháng 7 năm 2016. Phương pháp điều tra qua tiếng kêu đã được sử dụng để xác định số lượng đàn Vượn có cư trú trong khu vực nghiên cứu. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã tiến hành ghi âm tiếng hót của chúng bằng máy ghi âm đa phổ. Tổng cộng 11 điểm nghe thuộc 5 khu vực đã được tiến hành điều tra. Kết quả của nghiên cứu đã ghi nhận được 6 đàn Vượn với tổng số 14 cá thể khác nhau, bao gồm: 12 cá thể trưởng thành và 2 cá thể bán trường thành. Các đàn Vượn chủ yếu được ghi nhận tại khu vực phía Nam của khu bảo tồn thuộc xã Trà Linh, huyện Nam Trà My. Các mối tác động chính đến quần thể Vượn tại khu vực nghiên cứu là do mất sinh cảnh sống và săn bắt trái phép.

 Từ khóa: Âm sinh học, Ngọc Linh, Nomascus annamensis, Vượn má vàng phía Bắc, Vượn.

 22. Tiêu đề : CÁC LOÀI CÂY THUỐC CÓ TIỀM NĂNG KHAI THÁC TỰ NHIÊN, GIÁ TRỊ BẢO TỒN VÀ GÂY TRỒNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.

 Tóm tắt : Kết quả điều tra khảo sát thực địa, phỏng vấn cộng đồng kết hợp tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã xác định trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có: (1) 30 loài (20 loài và 5 nhóm loài) cây thuốc mọc tự nhiên có tiềm năng khai thác được đánh giá đa dạng thành phần loài ở mức độ trung bình so với cả nước và cao so với khu vực Nam Trung bộ. Trong đó đáng lưu ý có 2 loài là Nhàu núi (Morinda longissima Y. Z. Ruan) và Sói rừng (Chloranthus spicatus (Thumb.) Makino) chưa được ghi nhận sử dụng tại Đà Nẵng; (2) cây thuốc có giá trị bảo tồn: 41 loài, trong đó: 6 loài theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 39 loài theo Sách đỏ Việt Nam, 2007 và 24 loài có trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam; (3) cây thuốc có khả năng phát triển trồng là 38 loài trong đó 2 loài đang được trồng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp dược là Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.) và Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L.) với trữ lượng tương ứng gần 30 tấn/năm và 5 tấn/năm. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường dược liệu tại địa phương và trong cả nước cần tiếp tục nghiên cứu đưa vào gây trồng các loài như: Bách bệnh (Eurycomma longifolia Jack), Bách bộ (Stemona tuberosa Lour), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour. & Fibraurea recisa Pierre), Sài hồ cát (Polycarpa thymoidea Gagnep.), Thuốc thượng (Phaeanthus vietnamensis Ban.) và Lá khôi tía (Ardisia silvestris Pitard.).

Từ khóa: Cây thuốc, gây trồng, giá trị bảo tồn, thành phố Đà Nẵng, tiềm năng khai thác.

 23. Tiêu đề : BẢO TỒN TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG Ở VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC, VIỆT NAM.

 Tóm tắt : Trung du và miền núi phía Bắc là vùng đất rộng lớn ở phía Bắc của Việt Nam với 14 tỉnh. Đây là khu vực có tài nguyên rừng phong phú với tỷ lệ che phủ rừng cao thứ hai trong sáu vùng kinh tế của Việt Nam, nhưng lại là khu vực có diện rừng bị chặt phá nhiều thứ hai trong sáu vùng kinh tế, đồng thời cũng là vùng nghèo nhất trong sáu vùng kinh tế của Việt Nam. Cộng đồng dân cư nghèo ở Trung du và miền núi phía Bắc có sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng và có xu hướng khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống. Do vậy, bảo tồn tài nguyên rừng gắn với phát triển sinh kế bền vững sẽ giúp vùng Trung du và miền núi phía Bắc giảm nghèo, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng và cần tập trung vào một số giải pháp như tăng cường lợi ích kinh tế từ bảo tồn tài nguyên rừng, cải thiện các nguồn lực sinh kế và thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững ở khu vực này.

  Từ khóa: Bảo tồn, sinh kế bền vững, tài nguyên rừng.

 24. Tiêu đề : ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ HÌNH THÁI CÂY ĐỖ QUYÊN QUANG TRỤ (Rhododendron tanastylum) TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN.

 Tóm tắt : Đỗ quyên quang trụ là loài hoa đẹp, hiện nay mới chỉ ghi nhận có ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Bài báo trình bày một số kết quả nghiên cứu đặc điểm phân bố, cấu trúc rừng và đặc điểm hình thái Đỗ quyên quang trụ tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Theo kết quả thu được, Đỗ quyên quang trụ là cây gỗ nhỏ, chiều cao đạt 8,4 m, đường kính đạt 21,6 cm và phân bố ở độ cao 2000 m – 2500 m với mật độ 350 – 420 cây/ha. Tổ thành tầng cây cao ưu thế tại khu vực có Đỗ quyên quang trụ phân bố bao gồm: Côm lá hẹp, Dẻ the, Hồng quang, Kim cang lá nhỏ, Đỗ quyên lá to, Đỗ quyên lông thô, Trâm, Kháo, Đa núi. Tổ thành các loài cây tái sinh tại khu vực có Đỗ quyên phân bố khá phong phú, trong đó số lượng cây tái sinh của các loài Đỗ quyên chiếm tỷ lệ cao so với số lượng cây tái sinh của các loài khác. Cây bụi, thảm tươi trong khu vực nghiên cứu có độ cao trung bình 1,43 m với độ che phủ khoảng 56%. Thổ nhưỡng tại khu vực Đỗ quyên quang trụ phân bố: đất hơi chua, độ phì và các chỉ tiêu khác từ mức trung bình trở lên.

 Từ khoá: Đỗ quyên, Đỗ quyên quang trụ, cây ưu thế, Vườn Quốc gia Hoàng Liên.

 25. Tiêu đề : TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA XOAN NHỪ (Choerospondias axillaris) Ở SƠN LA VÀ LÀO CAI.

 Tóm tắt : Xoan nhừ (Choerospondias axillaris) là loài cây bản địa mọc nhanh, đa tác dụng, có khả năng tái sinh từ chồi và hạt. Nghiên cứu được thực hiện tại các khu rừng tự nhiên có Xoan nhừ phân bố tại hai tỉnh Sơn La và Lào Cai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại Lào Cai số lượng cây tái sinh ở các lâm phần có Xoan nhừ phân bố trung bình là 28.215 cây/ha, trong đó số lượng cây tái sinh Xoan nhừ là 1.071 cây/ha, tương ứng là 3,8% tổng cây tái sinh; tại Sơn La số lượng cây tái sinh của lâm phần trung bình là 43.055 cây/ha, trong đó cây tái sinh Xoan nhừ là 2.500 cây/ha, chiếm tỷ lệ 5,8% tổng số cây tái sinh. Xoan nhừ không tham gia trong công thức tổ thành tái sinh chính. Xoan nhừ tái sinh chủ yếu bằng hạt (tỷ lệ là 82,6 ở Lào Cai và 78,2% ở Sơn La), trong khi đó tỷ lệ cây tái sinh từ chồi thấp (17,4 ở Lào Cai và 21,8% ở Sơn La). Tỷ lệ cây Xoan nhừ tái sinh có phẩm chất A trung bình là 40,3% ở Lào Cai và 40,7% ở Sơn La. Xoan nhừ tái sinh chủ yếu tập trung ở cấp chiều cao dưới 1 m (chiếm 67,0 – 100%), sau đó giảm mạnh ở cấp chiều cao 1 – 2 m (chiếm 0,0 – 33,0%) và đến cấp chiều cao > 2 m thì hầu như không phát hiện cây tái sinh Xoan nhừ.

 Từ khóa: Xoan nhừ, Lào Cai, Sơn La, tái sinh tự nhiên.