Bài trích: Tạp Chí Ngân Hàng BANKING REVIEW – Số 18

Nganhang

 1. An ninh tài chính – tiền tệ và công tác truyền thông.

 Trích dẫn: Sự nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng đe dọa trực tiếp đến cuộc sống an toàn của mỗi người dân, làm mất an ninh, trật tự xã hội. Nhiều thông tin sai lệch được phát tán trên không gian mạng đã xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm, khủng bố tinh thần của công dân, gây hoang mang dư luận… đặc biệt những thông tin thất thiệt trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ có thể gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, thậm chí đe dọa đến an ninh, trật tự, điển hình là thông tin Việt Nam đổi tiền xuất hiện cuối năm 2016…

 2. Xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.

 Trích dẫn: đề tài “Xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam” do TS. Hoàng Thị Thanh Hằng – Trường đại học ngân hàng TP. Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, đã hoàn thành nghiên cứu và bảo vệ thành công tại hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong tháng 7/2016, đạt loại khá. Sau đây là những nội dung cơ bản của đề tài.

 3. Quản trị nguồn nhân lực – lý thuyết và các hàm ý cho các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0.

 Trích dẫn: Bài viết nghiên cứu sự tiến hoá của các mô hình quản trị nhân sự trên thế giới, từ các mô hình kỹ trị truyền thông cho đến lý thuyết quản trị nguồn nhân lực trong bối cảnh hình thành xã hội hậu công nghiệp và cuộc cách mạng 4.0. Nội dung cũng như tính ưu việt và tính phù hợp của lý thuyết quản trị nguồn nhân lực được phân tích. Khác với mô hình kỹ trị đề cao định hướng vào hiệu quả và năng xuất lao động, lý thuyết quản trị ngồn nhân lực nhấn mạnh sự cần thiết tạo ra những động lực mới để người lao động tích cực tham gia vào quá trình cải thiện sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp mình. Đòng thời, bài viết luận chứng sụ cần thiết vân dụng lý thuyết quản trị nguồn nhân lực tại cácngân hàng Việt Nam trước những xu thế mới trên thế giới.

 4. Giao dịch đảm bảo từ quy định mới.

 Trích dẫn: Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2017 – BLDS 2015) cùng với hàng loạt văn bản mới được ban hành trong thời gian qua đã thay đổi hành lang pháp lý về giao dịch đảm bảo. Bài viết tập trung phân tích một số quy định mới cũng như một số hạn chế hay khoảng trống trong các quy định này.

 5. Điểm số tiếp cận tín dụng của Việt Nam theo đánh giá cảu ngân hàng thế giới và theo khuyến nghị về mặt pháp lý nhằm cải thiện điểm số tiếp cận tín dụng.

 Trích dẫn: Từ năm 2014, hằng năm, Chính phủ ban hành các Nghị quyết số 19/NQ-CP (năm 2014, 2015, 2016, 2017) về những nhiệm vụ giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại các Nghị quyết 19 này, Chính phủ đã đặt ra các mục tiêu ngắn hạn cho giai đoại 2 năm và định hướng dài hạn cho giai đoạn 5 năm.

 6. Sử dụng mô hình rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

 Trích dẫn: Có thể hiểu: Rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại là hiện tượng đồng thời hàng loạt các ngân hàng, thậm chí là toàn hệ thống Ngân hàng thương mại không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán sắp tới, hoặc nhu cầu tín dụng hiệu quả, hợp lý của nền kinh tế.

 7.  Xây dựng mô hình dự báo rủi ro tín dụng với nhóm khách hàng doanh nghiệp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.

 Trích dẫn: một trong số những mô hình dự báo rủi ro tín dụng được nhiều học giả biết tới nhất là mô hình điểm số Z (Z-scoro model) được sáng tạo và phát triển bởi Edward Altman vào năm 1968 bằng cách sử dụng phương pháp phân tích biệt số đa yếu tố (multi-variate discriminant analysis). Sau khi mô hình điểm số Z ra đời, đã có rất nhiều những nghiên cứu kế thừa và phát triển tiếp sau, với mục tiêu chung là tìm ra cách dự báo rủi ro tín dụng hay rủi ro phá sản tối ưu nhất cho từng giai đoạn, từ đó, giúp các chủ thể cho vay, hay thu gom hơn là các ngân hàng thương mại có được biện pháp quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả nhất. bài viết này sẽ tập trung và sự phát triển trong các phương pháp dự báo rủi ro tín dụng, rà soát các chỉ bảo (biến số) khác nhau để đưa vào mô hình dự báo rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra mô hình và các chỉ bảo thích hợp nhất để dự báo rủi ro tín dụng của nhóm khách hàng doanh nghiệp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.