Bài trích: Tạp chí Kế toán – Kiểm Toán số 11.2016

KTKT so 11 (1)

1.Hội kế toán và kiểm toán Việt Nam công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hội viên Thành công và đổi mới/PGS.TS Đặng Văn Thanh// Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr. 2-5 .

Tóm tắt : Với mục đích hội tụ , chuyên nghiệp và phát triển , Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam đang và sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ tất cả các hoạt động theo tôn chỉ và mục đích của Hội , trong đó có hoạt động đào tạo và bồi dưỡng vì quyền lợi của hội viên , vì nghề nghiệp kế toán , kiểm toán , vì sự lành lạnh mạnh và minh bạch của nền tài chính quốc gia.

2.Hội nghị câu lạc bộ Kế toán trưởng toàn quốc lần thứ 46/Ths.Trịnh Công loan// Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.7- 8.

Tóm tắt : Ngay 18/11/2016, tại trụ sở Bộ Tài chính , Hà Nội , câu lạc bộ Kế toán trưởng toàn quốc đã tổ chức Hội nghị kỳ sinh hoạt lần thứ 46 với chủ đề : “Trao đổi , Tọa đàm về nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Kế toán mới , và Chính sách chế độ Tài chính , Thuế , Kế toán năm 2016”. Ngày 11/11/2016 tại Hà Nội , hội kế toán và Kiểm toán Việt Nam phối hợp với trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội , đã tổ chức Hội thảo cấp quốc gia , với chủ đề :”Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo kế toán , kiểm toán theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế “.

3.Đổi mới chương trình , nội dung đào tạo kế toán , kiểm toán theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế /Lệ Dung// Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.9-10.

Toám tắt : Đây là vấn đề rất mới , rất bức xúc , Ban tổ chức cũng như các chuyên gia mong muốn được đổi mới từ chương trình , nội dung , giáo trình như thế nào , để chúng ta đào tạo được đội ngũ nguồn lực kế toán xứng tầm với khu vực và sẵn sàng tham gia hội nhập kinh tế khu vực thế giới.

4.Ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp đối với kế toán quản trị tronh doanh nghiệp/TS.Huỳnh Quang Linh//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016- Tr.10-13.

Toám tắt : Cơ cấu quản trị doanh nghiệp (DN) đóng vao trò quan trọng , đối với quyết định của các nhà quản lý về mức độ áp dụng kế toán quản trị (KTQT) trong DN . Một cấu trúc quản trị DN hợp lý , sẽ có nhu cầu áp dụng những hệ thống KTQT quy chuẩn hơn . Mức độ áp dụng KTQT trong DN được cho là tùy thuộc vào cơ cấu quản trị hiện hành của doanh nghiệp đó , Công trình nghiên cứu này , đã tập trung khảng định mối quan hệ nhân quả giữa cơ cấu quản trị DN và mức độ áp dụng KTQT trong DN. Nó kiểm chứng mối quan hệ này , bằng bộ dữ liệu thu thập từ các DN niêm yết trên 3 sàn chứng khoán chính ở Việt Nam . Nghiên cứu này chứng minh rằng , cơ cấu quản trị Dn có ảnh hưởng thống kê lên mức độ áp dụng KTQT trong DN tại mức ý nghĩa 1% . kết quả từ công trình nghiên cứu này , cũng đề nghị các nhà quản lý DN nên chọn những hệ thống KTQT và mức độ áp dụng các hệ thống này , phù hợp với cơ cấu quản trị hiện tại của DN mình .

Từ khóa : Quản trị DN; KTQT; Phân tích định lượng.

5.Tăng cường pháp chế và chuẩn mực thực hiện kiểm toán hoạt động nâng cao vai trò kiểm toán nhà nước trong uqarn lý Ngân hàng – Quỹ công/Th.s Lê Xuân Thiện //Tạp chí Kiế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.14-20.

Toám tắt : Tổ chức kiểm toán hoạt động (KTHĐ) nâng cao vai trò kiểm toán nhà nước (KTNN) là yêu cầu thiết yếu . KTHĐ nhằm đánh giá tính kinh tế , hiệu quả , hiệu lực và hiệu năng quản lý , hoạt động của một cu trình thực hiện ngân sách nhà nước . Để hiệu lực hóa mục tiêu KTHĐ , cần tuân thủ nguyên tắc , tiêu chuẩn và những điều kiện bắt buộc hình thành nên một thông lệ , chuẩn mực chung cho mục tiêu KTHĐ trong dài hạn . Một yêu cầu đặt ra là tăng cường vai trồ pháp chế , tính chuẩn mực để hiệu lực hóa việc áp dụng trong quy trình , các bước kiểm toán thì tổ chức KTHĐ mới đạt được mục tiêu nâng cao vai trò KTNN trong quản lý tài chính công , tài sản công . Như vậy vai trò pháp chế và chuẩn mực thi hành pháp luật có mối quan hệ mật thiết , trong thực hiện vai trò của Chủ thể kiểm toán và khách thể kiểm toán cùng với việc phát huy hiệu quả của vai trò KTHĐ.

6.Đổi mới phương phyasp giảng dạy môn học Kế toán tài chính cho học viên cao học/TS. Đinh Phúc Tiếu//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.21-22.

Tóm tắt : Kế toán tài chính (KTTC) là một môn học cơ bản , bắt buộc và có thời lượng cao hơn các môn học khác trong hệ thống các môn học đào tạo sau đại học thuộc chuyên ngành kế toán , kiểm toán . Việc chuyền đạt những nội dung gì , có sử dụng phương pháp nào luôn được các trường đại học , các khoa chuyên ngành cũng như các nhà khoa học quan tâm ,. Bài viết , xin đưa ra ý kiến về phương pháp tiếp cận và cấu trúc môn học .

7.Hệ thống Kiểm soát Nội bộ Kho bạc Nhà nước một số quốc gia trên thế giới với kiểm soát hoạt động thu , chi ngân sách nhà nước và bài học kinh nghiệm  cho Kho bạc nhà nước Việt Nam /Ths.Đỗ Thị Thoa//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.23-25.

Tóm tắt : Kho bạc nhà nước (KBNN) là cơ quan quản lý quỹ ngân sách Nhà nước (NSNN) của quốc gia . Việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) của KBNN hiệu quả , góp phần quản lý và điều hành các hoạt động của KBNN nói chung và hoạy động thu , chi NSNN nói riêng. Bài viết , Giới thiệu kinh nghiệm về thế giới và bài học kinh nghiệm cho KBNN Việt Nam với kiểm soát hoạt động thu ,chi NSNN qua KBNN.

8.Bàn về một số thay đổi trong quy định hiện hành liên quan đến kế toán giao dịch cổ phiếu/TS> Trần Thị Thanh Hải//Tạp chí Kế toán & kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.26-28.

Tóm tắt :  bài viết , đề cập đến một số thay đổi trong quy định hiện nay , liên quan đến kế toán giao dịch cổ phiếu (CP) . Đứng từ cả 2 phía , nhà đầu tư và bên phát hành , trong đó chủ yếu bàn về cách thức phân loại hoạt động ĐTTC, kế toán khoản cổ tức viện ghi nhận nghiệp vụ chi trả tôt chức CP ưu đãi , trường hợp phát hành CP từ các nguồn khác hay việc ghi nhận nghiệp vụ phát hành CP và trình bày thoonh tin về CP , phát hành trên bảng cân đối kế toán của đơn vị . Bên cạnh đó , bài viết cũng đưa ra một số bàn luận và hướng gợi mở cách thức xử lý trong một số trường hợp , để các quy định của kế toán Việt nam tiệm cận gần hơn với thông lệ kế toán quốc tế .

Từi khóa : ĐTTC , cổ tức , phát hành CP.

9.Chất lượng kiểm toán và đo lường chất lượng kiểm toán : Đề xuất một khuôn mẫu thống nhất và mô hình cho nghiên cứu thực nghiêm/PGS.TS. Phạm Đức Hiếu – Ths. Lại Thị Thu Thủy//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.29-33.

Tóm tắt : Khủng hoảng tài chính 2008 vad các bê bối về kế toán – kiểm toán gần đây đã cho thấy tầm quan trọng của chất lượng kiểm toán (CLKT) Báo cáo tài chính (BCTC) . các cơ quan quản lý , tổ chức nghề nghiệp cũng như giới nghiên cứu đều đưa ra các đề xuất của mình để đánh giá , đo lường CLKT tài chính . Tuy nhiên , do tiếp cận ở các góc độ khác nhau nên các đề xuất về một khuôn mẫu để đánh giá CLKT tài chính là chưa đạt được . Trên cơ sở phân tích nội dung (Content analysis) , bài viết hệ thống hóa các gợi ý đo lường CLKT đã được nghiên cứu trước đó và đề xuất một khuôn mẫu và mô hình đo lường CLKT mới gồm 13 tiêu chí được chia thành 3 nhóm nhân tố : Đầu vào , đầu ra , và bối cảnh . các tiêu chí đo lường CLKT trong mô hình đề xuất , đều đã được các nghiên cứu thực nghiệm trước đó xác nhận . Song do đặc thù của dịch vụ kiểm toán , nên mô hình đề xuất cũng cần được kiểm chứng bằng các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai , ở từng bối cảnh cụ thể .

Từ khóa : Kiểm toán, CLKT, khuôn mẫu .

10.Những lợi ích của đo lường theo giá trị hợp lý/ Lê vũ Ngọc Thanh// Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.34-40.

Tóm tắt : Lịch sử phát triển của giá trị hợp lý (GTHL) cho thấy , GTHL xuất hiện trước năm 1940 đến năm 1986 mới được chuẩn hóa bằng các quy định và đến gần đây (2009 đối với Hoa Kỳ và 2011 đối với Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế ) đã có chuẩn mực riêng , để hướng dẫn cách đo lường GTHL . Và đến nay , GTHL đã được bắt buộc áp dụng cho công cụ tài chính theo quy định của chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ và chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), được phép lựa chọn giữa mô hình giá gốc và mô hình đánh giá lại theo GTHL cho các tài sản phi tài chính theo yêu cầu cỉa IFRS.Hiện tại , có 132 quốc gia đồng ý áp dụng IFRS (theo kết quả khảo sát các cơ quan ban hành chính sách của Ủy ban vhuaarn mực kế toán quốc tế). Tại việt nam , luật kế toán 2015 đã đưa GTHL như một cơ sở đo lường mới bên cạnh giá gốc , khi đưa ra yêu cầu “Giá trị tài sản và nợ phải trả được được ghi nhận ban đầu theo giá gốc “. Sau ghi nhận ban đầu , đối vopwsi một số loại tài sản , hoặc nợ phải trả mà giá trị biến động thường xuyên theo giá thị trường và giá trị của chúng có thể xác định lại một cách đáng tin cậy thì được ghi nhận theo GTHL tại thời điểm cuối kỳ lập báo cáo tài chín “[Luật kế toán 2015 – điều 6.1]. tuy nhiên , các chuẩn mực kế toán Việt nam vẫn chưa thay đổi , có ý nghĩa là GTHL cho đo lường sau ban đầu vẫn chưa được đề cập đến trong các chuẩn mực kế toán cụ thể . Như vậy , phạm vi áp dujg GTHL trong kế toán việt nam còn hạn chế , chỉ áp dụng cho ghi nhận ban đầu , chưa áp dụng cho đo lường sau ban đầu . Với sức ép của quá trình hội nhập kinh tế thế giới , việc áp dụng IFRS là một tất yếu trong tương lai gần của kế toán Việt Nam , trong đó GTHL cho đo lường sau ban đầu là một bước đệm để tiến tới sự hòa hợp với IFRS . Bài viết làm rõ những lợi ích của GTHL , để thấy được tại sao GTHL được ưa chuộng thông qua các nghiên cứu trên thế giới và sự phân tích làm roc của tác giả . bài viết gồm 2 phần 1.Giới thiệu các cơ sở đo lường trong kế toán và 2. Những lợi ích của việc áp dụng GTHL cho đo lường sau ban đầu.

11.Bảo hiểm bắt buộc Việt Nam bắt kịp với các nước ở Châu Á/Ths. Trần Thị Thương – Ths. Nguyễn Đăng Học – Ths.Phan Lê Trang//Tạp chí Kế toán và Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.41-42.

Tóm tắt : Điều 22, trong Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc năm 1948 về nhân quyền , đã chỉ ra rằng :”Mỗi người , là một thành viên của xã hội , có quyền an sinh xã hội ,…” và an sinh xã hội là một phần quan trọng , trong quyền của con người và tất cả các quốc gia trên thế giới đều đồng ý với luận điểm trên (Worawan Chandoevwit , 2007). Theo xu hướng đó , Việt Nam đã không ngừng chế độ cải cách chế độ bảo hiểm (BH) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động (NLĐ) và thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội . Hiện nay , hệ thống BH bắt buộc tại Việt Nam bao gồm 3 loại BH : BH xã hội (BHXH), BH y tế (BHYT) và BH thất nghiệp (BHTN). Trong phạm vi bài viết này , chúng tôi chỉ trao đổi về BH bắt buộc trong các doanh nghiệp (DN).

12.Lợi ích của vốn vay đối với doanh nghiệp/Ths.Nguyễn Minh Nguyệt//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.43-44.

Tóm tắt : Trong nhũng điều kiện kinh doanh nhất định , để tăng lợi nhuận , doanh nghiệp (DN) có thể tăng vốn bằng cách : Bỏ thêm vốn , đi vay thêm vốn hoặc chiếm dụng vốn . Tuy nhiên , khi vay vốn , DN phải chấp nhận trả một khoản lãi vay , trong trường hợp lãi suất vay bằng hoặc cao hơn tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn của DN , thì khoản vay đó k mang lại chút hiệu quả nào , thậm chí DN còn mất một phần lợi . vì vậy , DN có xu hướng tìm sựu tài trợ vốn từ các mục khác của khoản mu7jc “Nợ phải trả “ trước khi nghĩ đến chuyệ đi vay vốn , các nguồn tài trợ này thường không phải chịu lãi suất thấp hơn so với lãi suất vay . Các phương thức mà DN thường áp dụng là , kéo dài hạn thanh toán cho người bán  với mức có thể , nợ lương công nhân viên, chậm nộp thuế .

13.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát Nội bộ tại các Tập đàon kinh tế ở các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam/Ths. Nguyễn Thanh Thủy//Tạp chi Kế toán & kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.45-47,57.

Tóm tắt : tập đoàn kinh tế (TĐKT) tại Anh , Mỹ , Pháp và Đức đã trải qua quá trình phát triển lâu dài dưới tác động của các thể chế môi trường kinh doanh , các yếu tố văn hóa – xã hội và thể hiện qua bố đặc điểm : 1.Các TĐKT ở các nước này được hình thành theo ba phương thức, 2.TĐKT có sự đa dạng về quy moovaf phạm vi hoạt động, 3.TĐKT có xu hướng mở rộng hoạt động sang các ngành , lĩnh vực liên quan, 4.Ngoài việc sở hữu của công ty mẹ và các công ty thành viên , TĐKT thường là thực thể đa sở hữu , trong đó công ty mẹ được sở hữu bởi rất nhiều cổ đông. Tại Nhật bản với những đặc điểm về môi trường kiểm soát của các DN Nhật Bản , các chính sách , thủ tục kiểm soát được thiết kế tại các DN được vận hành một cách hữu hiệu bởi các cấp quản lý và nhân viên trong DN , những người nỗ lực cho thành công của DN và hướng tới những giá trị mà xã hội tôn vinh. TĐ năng lực Úc là nhà cung cấp điện lớn nhất trong thị trường điệ quốc gia của Úc, mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại TĐ được áp dụng theo COSO , có đủ 5 thành tố , tuy nhiên TĐ chú trọng nhất vào hệ thống đánh giá rủi ro . TĐ điện lực Tokyo . Bài học kinh nghiệm khi xây dựng và hoàn thiệ hệ thống KSNB cho các TĐKT tại Việt Nam.

14.Môi trường pháp lý về Du lịch Kiểm toán Độc lập ở Việt Nam/Ths. Lại Phương Thảo // Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.48-51.

Tóm tắt : “Kiểm toán độc lập (KTĐL) có thể hiểu là dịch vụ kiểm toán (DVKT) do DN kiểm toán thực hiện , nhằm cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng , nhưng phải đảm bảo vai trò làm tăng độ tin cậy cho thông tin tài chính , nhờ đó các đối tượng có liên quan  (nhà đầu tư , ngân hàng …) có thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn mang lại hiệu quả kinh tế .Vì vậy, sự phát triển của DVKT là xu thế tất yếu khách quan , trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế . Tuy nhiên , chất lượng thực tế của hoạt động kiểm toán và khả năng phát triển của thị trường này đang là một vấn đề gây tranh cãi (Đặng Đức Sơn 2008). Ngành dịch vụ đặc thù này , chỉ có thể phát triển khi có một môi  trường pháp lí chặt chẽ , đồng bộ và phù hợp với thông lệ quốc tế . Bài viết , đề cập đến thực trạng môi trường pháp lý ở Việt nam đối với DVKT , đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng DVKT , cũng như môi trường cạnh tranh lành mạnh cho loại hình dịch vụ đặc thù này phát triển .

Từ khóa : Môi trường pháp lý , KTĐL.

15. Vận dụng Kế toán trách nhiệm vào công tác quản trị doanh nghiệp / TH.s Đặng thị Bắc//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.52-53.

Tóm tắt : Kế toán trách nhiệm (KTTN0 là một nội dung cơ bản của Kế toán Quản trị (KTQT) . Không riêng ở Việt Nam mà trên khắp thế giới , KTQT nói chung và KTTN nói riêng , đã được vận dụng và có những đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều doanh nghiệp (DN) , các Tổng công ty , Tập đoàn Kinh tế lớn . Tuy nhiên , thực trạng hiện nay các DN Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều thất thoát , lãng phí và tiêu cực trong công tác quản lý kinh tế . Những vấn đề này rất khó để tìm ra đối tượng hay bộ phận chịu trách nhiệm , nếu KTTN không được hiểu đúng và vận dụng hiệu quả trong công tác quản lý ở các DN Việt Nam.

16.Hoàn thiện phương pháp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ/Th.s Đặng Xuân Định//Tạp chí Kế toán & Kiểm toán – Số 11/2016 – Tr.54-57.

Tóm tắt : Phương pháp tính giá thành (GT) theo tỷ lệ được áp dụng ở loại hình doanh nghiệp (DN) sản xuất (SX) mà trong một quy trình công nghệ SX , kết quả Sx thu được một nhóm SP cùng loại nhưng với nhiều quy cách , kích cỡ , phẩm cấp khác nhau , ví dụ như DN đẹt , may, SX gạch , ống nước ,…